Sữa mẹ là quà tặng
quý giá của thiên nhiên, là thức ăn không thể thiếu của trẻ nhỏ. Người mẹ trong
thời kỳ cho con bú mà sữa tiết ra quá ít hoặc không có sữa thì gọi là chứng
thiếu sữa (hay khuyết nhũ).
Lá và quả sung non chữa thiếu sữa. (Ảnh: Internet)
Theo Đông y, sữa là do huyết hóa
sinh, dựa vào khí mà vận hành. Vì vậy sữa có nhiều hay ít đều có quan hệ rất
mật thiết với khí huyết người mẹ. Nói chung, tỳ vị hư nhược, khí huyết sinh hóa
kém, hoặc can khí uất kết, khí cơ bất thông, kinh mạch vận hành trở trệ… đều có
thể là nguyên nhân dẫn đến chứng thiếu sữa.
Phạm vi bài này xin giới thiệu
một số nghiệm phương điều trị thiếu sữa bằng bài thuốc, châm cứu và món ăn theo
Đông y như sau:
I. Điều trị bằng
thuốc thang:
Đông y biện chứng thiếu sữa có 2
thể chính là:
1. Khí huyết lưỡng
hư:
- Triệu chứng: Sữa ít hoặc không
có sữa, sữa loãng, vú mềm, người mệt mỏi, hơi thở ngắn, ăn kém, môi lưỡi tái
nhợt, rêu lưỡi mỏng, mạch tế nhược hoặc hư hoãn.
- Bài thuốc: Dùng bài Sinh
nhũ đơn của Phó Thanh Chủ (1607-1684).
Gồm có: Nhân sâm 40g, Hoàng
kỳ (sống) 40g, Đương quy (rửa rượu) 80g, Mạch môn (bỏ lõi) 20g, Mộc thông 1,5g,
Cát cánh 1,5g, Móng giò lợn 2 cái. Sắc uống 3 lần trong ngày. Theo tác giả bài
thuốc sắc uống 2 thang là sữa ra như suối vọt.
2. Can khí uất kết:
- Triệu chứng: Sữa ít hoặc không
có sữa mà vú căng đau nhức, ngực sườn đầy tức, chán ăn, người bứt rứt, rêu lưỡi
vàng, mạch hoạt sác hoặc huyền sác.
- Bài thuốc: Dùng bài Thông
nhũ thang, gồm có: Bạch thược (sao giấm) 20g, Đương quy (rửa rượu) 20g,
Bạch truật (sao đất) 20g, Thục địa 12g, Cam thảo 1,5g, Mạch môn (bỏ lõi) 20g,
Thông thảo 4g, Sài hồ 4g, Viễn chí 4g. Theo tác giả Phó Thanh Chủ chỉ cần sắc
uống 1 thang liền thông sữa, không phải uống nữa. Tuy nhiên, theo chúng tôi,
tùy người bệnh, thầy thuốc có thể gia giảm thêm bớt liều lượng cho thích hợp.
II. Điều trị bằng
châm cứu, day ấn huyệt:
1. Theo tác giả Đổng Thiên Ân (Triết
Giang Trung y tạp chí số 1-1965) dùng huyệt Đản trung châm thẳng, sâu
5 phân, lưu kim 30-60 phút. Sau khi châm kim, dùng điếu ngải cứu ấm trên huyệt
khoảng 20 phút. Chỉ châm và cứu từ 1 đến 2 lần, điều trị 20 ca, có kết quả tốt
19 ca, không hiệu quả 1 ca.
2. Theo báo cáo của Nguỵ Hành Cơ
(Trung cấp y san, 1-1988), dùng nhóm huyệt chủ gồm Đản trung, Nhũ căn,
Dịch môn xuyên Trung chữ, Thông lý. Nếu can khí uất trệ gia thêm Liệt khuyết,
Hậu khê, đều dùng tả pháp. Nếu khí huyết đều hư thêm các huyệt Công tôn, Túc
tam lý, Tam âm giao, đều dùng bổ pháp. Sau khi châm kim xuyên nhanh qua da, các
huyệt trên ngực cho luồn kim hướng về phía đầu vú từ 1-1,5 thốn. Sau khi đắc
khí lưu kim 20 phút. Mỗi ngày 1 lần, 7 lần là 1 liệu trình. Kết hợp với phương
pháp xoa bóp day ấn huyệt, tác giả điều trị 34 ca, khỏi hẳn được 24/25 ca can
uất khí trệ và 7/9 ca khí huyết đều hư. Tỷ lệ khỏi hẳn đạt 91,2%. Ba ca còn lại
đều có dấu hiệu chuyển biến tốt.